GIAO DỊCH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

GIAO DỊCH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN NHƯNG CHỈ MỘT BÊN (VỢ HOẶC CHỒNG) THAM GIA KHI KÝ KẾT

Hiện nay, có khá nhiều trường hợp vợ hoặc chồng khi tham gia ký kết giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ một bên tham gia ký kết hợp đồng. Vậy, hệ quả các giao dịch dân sự này sẽ như thế nào theo quy định pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp?

– Căn cứ Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”.

– Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

– Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.

– Căn cứ Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.

Như vậy, theo các quy định nêu trên, xét rằng việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là bất động sản phải do hai vợ chồng thỏa thuận hoặc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận việc định đoạt tài sản chung hoặc không có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản mà một bên vợ hoặc chồng tự ý tham gia ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp…không được sự đồng ý của người còn lại thì hợp đồng đó sẽ được xem là giao dịch vô hiệu toàn bộ.

Tuy nhiên, trên thực tế khi giải quyết tranh chấp, ngoài việc đối chiếu quy định pháp luật Toà án còn xem xét, đánh giá nhận định nhiều yếu tố khách quan khác như:

  • Có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất;
  • Bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai;
  • Người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì được xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.

Quý khách hàng/Quý đối tác có vướng mắc hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ Pháp lý của HÃNG LUẬT NAM PHƯƠNG vui lòng liên hệ thông tin bên dưới để được tư vấn, hỗ trợ chi tiết.

————————————-

HÃNG LUẬT NAM PHƯƠNG

 Phone: 0974 637 617 | 090 789 5548

 Zalo: 0974 637 617 | 090 789 5548

 Email: Hangluatnamphuong@gmail.com

 Website: Namphuonglawfirm.com

 Địa chỉ: Số 04 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *