CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH ĐÃ THỰC HIỆN 2/3 NGHĨA VỤ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH ĐÃ THỰC HIỆN 2/3 NGHĨA VỤ

TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Trong thực tiễn, có không ít giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Trong đó, vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự là một trong những vi phạm rất phổ biến.

Cách thức xác định đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch dân sự

Căn cứ Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:

“Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

Như vậy, căn cứ quy định pháp luật nêu trên, có thể hiểu rằng không phải mọi giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức đều vô hiệu. Theo đó, trường hợp một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, đồng thời có yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch, thì giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức không bị tuyên vô hiệu.

Vậy, làm thế nào xác định một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong trong giao dịch dân sự?

Căn cứ nội dung Án lệ số 55/2022/AL Về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức”, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/09/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao như sau:

“[6] Về thời hạn thực hiện giao dịch được hai bên xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện, về nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thỏa thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn là đã đủ điều kiện để chuyển nhượng. Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực…”

Căn cứ Mục 34 Công văn số: 1083/VKSTC-V9 “Về việc Giải đáp vướng mắc trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình” ngày 26/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hướng dẫn cách thức xác định một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong trong giao dịch dân sự như sau:

“Việc xác định đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ hay chưa phải dựa trên thỏa thuận của các bên trong giao dịch về số lượng, loại công việc, số tiền… phải thực hiện (Ví dụ: nếu là nghĩa vụ giao hàng thì phải giao được ít nhất 2/3 khối lượng hoặc số lượng hàng; nếu là nghĩa vụ trả tiền thì phải trả được ít nhất 2/3 số tiền; nếu nghĩa vụ là hoàn thành một công việc thì phải thực hiện được ít nhất 2/3 công việc). Đương sự có yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch trong trường hợp trên có nghĩa vụ chứng minh mình đã hoàn thành nghĩa vụ đến mức nào (trên cơ sở số lượng, khối lượng, thời gian, các việc đã làm, kết quả đã đạt được…) để Toà án xác định đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ hay chưa.

Trường hợp nghĩa vụ trong giao dịch không thể định lượng được, không thể xác định được bên có nghĩa vụ đã thực hiện được bao nhiêu phần nghĩa vụ thì không áp dụng Điều 129 BLDS để công nhận hiệu lực của giao dịch mà giao dịch đó sẽ vô hiệu do vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức.”

Như vậy, theo nội dung Án lệ số 55/2022/AL và theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có thể nhận thấy cách thức xác định đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong trong giao dịch dân sự là bằng việc xem xét, xác định mức độ hoàn thành nghĩa vụ của mỗi bên theo nội dung thoả thuận trong giao dịch dân sự mà các bên đã xác lập.

Bên cạnh đó, trường hợp giao dịch dân sự có vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức và mỗi bên hoặc các bên có yêu cầu Toà án công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự đó, thì mỗi bên hoặc các bên phải chứng minh mức độ thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ của mình.

Tuy nhiên, trường hợp nội dung giao dịch dân sự không định lượng được nghĩa vụ của mỗi bên hoặc các bên, dẫn đến không có cơ sở xác định mức độ hoàn thành nghĩa vụ của mỗi bên hoặc các bên, thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao khẳng định không thể áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 để công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự đã vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức.

Tóm lại, không phải mọi giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì đều được áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, khi xác lập giao dịch dân sự, để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia giao dịch dân sự cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy định về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, bao gồm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự.

Bài viết này nhằm mục đích cung cấp thông tin và phổ biến quy định pháp luật, không nhằm thay thế cho bất kỳ ý kiến/nhận định pháp lý chuyên sâu nào trong bất kỳ vụ việc cụ thể nào. Trường hợp cần được tư vấn chi tiết hơn về các vấn đề liên quan, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua thông tin bên dưới:

————————————————————————

HÃNG LUẬT NAM PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 4 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, Q.1, TP. HCM
Số điện thoại: 0974 637 617 | 090 789 5548
Email: Hangluatnamphuong@gmail.com
Website: Namphuonglawfirm.com

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *