MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO DI CHÚC

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIA THỪA KẾ KHÔNG 
PHỤ THUỘC VÀO DI CHÚC

Trong chế định về thừa kế, quy định “con thành niên mà không có khả năng lao động” được coi là một trong những đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (gọi tắt là “BLDS”). Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn trực tiếp áp dụng quy phạm trên dẫn đến nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc xác định khái niệm. Bài viết dưới đây sẽ cho bạn một góc nhìn pháp lý về vấn đề trên. 

 

Tại khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 quy định: Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

Xét thấy rằng, quy định pháp luật hiện hành đã dự liệu một số trường hợp để bảo vệ nhóm người có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trong quan hệ gia đình và hôn nhân và con thành niên mà không có khả năng lao động, đây đều là những người có mối quan hệ thân thiết, gần gũi nhất với người để lại di sản.

Do đó, nếu người lập di chúc vì lý do nào đó mà không để lại di sản hoặc để lại di sản ít hơn những gì mà người con thành niên mà không có khả năng lao động được nhận thì pháp luật đã ấn định mức hưởng nhất định đối với di sản thừa kế. Điều này, được hiểu là phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. 

Tuy nhiên, để xác định được đối tượng trong quy phạm pháp luật nêu trên cần làm rõ 02 vấn đề sau:

(i) Người thành niên;

(ii) Người không có có khả năng lao động. 

Thứ nhất, về người thành niên:

Căn cứ Điều 20 BLDS 2015 thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên; người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, (trừ trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người hạn chế năng lực hành vi dân sự).

Thứ hai, về người không có khả năng lao động:

Thuật ngữ “khả năng lao động” được nhắc đến trong các quy định của cả BLDS và Bộ luật lao động, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có bất kì giải thích cụ thể nào về khái niệm trên. Do đó, theo quy định tại Điều 6 BLDS 2015 về áp dụng tương tự pháp luật, có thể nhận định khái niệm này như sau:

Theo tinh thần mục 1.4 Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định:

“Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.”

Về bản chất, cụm từ “mất khả năng lao động” hay “không có khả năng lao động” đều có hậu quả là chủ thể đó sẽ không tồn tại khả năng lao động. Do đó,  căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQHĐTP, để được xác định là “người không có khả năng lao động” thì họ phải rơi vào các trường hợp bị: “Liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên”. 

Ngoài ra, theo điểm e khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điểm của Luật thuế thu nhập cá nhân, có quy định về khái niệm “người khuyết tật không có khả năng lao động” khi xét giảm trừ gia cảnh về thuế thu nhập như sau:

“Người khuyết tật, không có khả năng lao động theo hướng dẫn tại tiết đ.1.1, điểm đ, khoản 1, Điều này là những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về người khuyết tật, người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,…)”. 

Do đó, nếu người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà mắc một số bệnh mà dẫn đến không có khả năng lao động như: AIDS, ung thư, suy thận mãn… thì được xem là người không có khả năng lao động.

Từ các cơ sở nêu trên, có thể xác định đối tượng “Con thành niên mà không có khả năng lao động” là:

(i) Con đủ 18 tuổi trở lên bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên;

(ii) Con đủ 18 tuổi trở lên là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà mắc một số bệnh mà dẫn đến không có khả năng lao động như: AIDS, ung thư, suy thận mãn…

Bài viết này nhằm mục đích cung cấp thông tin và phổ biến quy định pháp luật, không nhằm thay thế cho bất kỳ ý kiến/nhận định pháp lý chuyên sâu nào trong bất kỳ vụ việc cụ thể nào. Trường hợp cần được tư vấn chi tiết hơn về các vấn đề liên quan, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua thông tin bên dưới:

 

HÃNG LUẬT NAM PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 4 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, Q.1, TP. HCM
Số điện thoại: 0974 637 617 | 090 789 5548
Email: Hangluatnamphuong@gmail.com
Website: Namphuonglawfirm.com

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *